Vừa thắng thầu sân bay Long Thành, CC1 báo lỗ sau thuế 2,5 tỷ đồng

 Tổng công ty Xây dựng Số 1 – CTCP (UPCoM: CC1) – thành viên của liên danh VIETUR vừa lọt qua vòng kỹ thuật gói thầu 5.10 sân bay Long Thành – đã kết thúc quý II/2023 với khoản lỗ sau thuế 2,5 tỷ đồng, đánh dấu khoản lỗ đầu tiên sau 10 quý liên tiếp có lãi.

Quý II/2023, doanh thu thuần của CC1 đạt 1.236 tỷ đồng, tăng hơn 2 lần so với quý liền kề trước đó, nhưng so với cùng kỳ năm trước lại giảm tới 22%. Điều này khiến lợi nhuận gộp chỉ đạt 109 tỷ đồng, giảm 8%.

Trong quý, doanh thu tài chính cũng giảm 21%, chỉ đạt 76 tỷ đồng, trong khi đó chi phí gần như không đổi, neo ở mức 132 tỷ đồng. Chi phí quản lý cũng khá cao, đạt 44 tỷ đồng, dù đã giảm 33%.

Kết quả là dù có lãi trước thuế 7,7 tỷ đồng, giảm 63% so với cùng kỳ, nhưng sau khi khấu trừ thuế, CC1 lỗ 2,5 tỷ đồng.

Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu thuần của CC1 đạt 1.782 tỷ đồng, giảm 35% so với cùng kỳ năm trước. Cơ cấu doanh thu ghi nhận sự suy giảm đồng đều ở các mảng miếng kinh doanh: doanh thu xây dựng 1.072 tỷ đồng, giảm 14%; doanh thu bán hàng hóa 586 tỷ đồng, giảm 20%; doanh thu cung cấp dịch vụ 86 tỷ đồng, giảm 37%…

Lợi nhuận gộp 6 tháng đạt 163 tỷ đồng, giảm 14% so với cùng kỳ năm trước.

Đối với hoạt động tài chính, do không còn cổ tức như năm ngoái, doanh thu tài chính giảm 27%, đạt 144 tỷ đồng. Trong khi đó, chi phí tài chính chỉ giảm nhẹ 6%, đạt 197 tỷ đồng, còn chi phí quản lý neo ở mức 90 tỷ đồng (giảm 35%).

Kết 6 tháng, CC1 báo lãi trước thuế 19 tỷ đồng, giảm 48% và lãi sau thuế 5,7 tỷ đồng, giảm 81% so với cùng kỳ.

Năm 2023, CC1 đặt mục tiêu doanh thu 10.761 tỷ đồng, lãi trước thuế 231 tỷ đồng. Như vậy, kết thúc nửa đầu năm, CC1 mới chỉ hoàn thành 16,5% mục tiêu doanh thu và 8,2% mục tiêu lãi sau thuế.

Tại ngày 30/6/2023, tổng tài sản của CC1 đạt 14.415 tỷ đồng, giảm 7% so với đầu năm. Chất lượng tài sản ở mức trung bình khi 76% tài sản nằm ở các khoản phải thu, chi phí xây dựng dở dang dài hạn và hàng tồn kho.

Trong đó, các khoản phải thu chiếm 54% tổng tài sản, tương đương 7.785 tỷ đồng, gồm: các khoản phải thu ngắn hạn đạt 6.906 tỷ đồng, giảm 5%, các khoản phải thu dài hạn đạt 1.179 tỷ đồng, giảm 1,8%.

Chi phí xây dựng cơ bản dở dang đạt 2.497 tỷ đồng tăng 17% so với đầu năm, tập trung ở các dự án: tuyến đường bộ ven biển Hải Phòng – Thái Bình 1.810 tỷ đồng, khu dân cư Hạnh Phúc 569 tỷ đồng, điện gió Hàm Kiệm – Bình Thuận 76 tỷ đồng…

Quy mô vốn bằng tiền của CC1 đã giảm 36% trong 6 tháng qua, còn 1.173 tỷ đồng.

Về nguồn vốn, nợ phải trả tại ngày 30/6/2023 đạt 10.362 tỷ đồng, giảm 9% so với đầu năm. Nợ vay chiếm quá nửa trong số đó, đạt 6.628 tỷ đồng, giảm 2%.

Vốn chủ sở hữu của CC1 đạt 4.502 tỷ đồng, giảm 2,6%. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu là 2,55 lần – mức bắt đầu cho sự quan ngại về rủi ro đòn bẩy.

Về dòng tiền, dòng tiền kinh doanh 6 tháng của CC1 âm 814 tỷ đồng, do tăng các khoản phải thu (872 tỷ đồng), tăng hàng tồn kho (197 tỷ đồng), chi trả lãi vay (133 tỷ đồng).

Dòng tiền đầu tư âm 501 tỷ đồng, do công ty đẩy mạnh chi mua sắm tài sản và chi cho vay, mua công cụ nợ của đơn vị khác.

Đáng chú ý, trong bối cảnh đó, CC1 đưa quy mô của dòng tiền vay trả xuống còn 2.063 tỷ đồng/1.486 tỷ đồng, giảm lần lượt 45% và 44% so với cùng kỳ năm trước. Hệ quả là lưu chuyển tiền thuần 6 tháng âm 742 tỷ đồng, khiến tiền và tương đương tiền giảm xuống chỉ còn 896 tỷ đồng.

KSF: Lãi quý II giảm 91%, nợ vay tăng gần 3 lần

Công ty Cổ phần Tập đoàn Real Tech (HNX: KSF) – tên cũ là Tập đoàn KSFinance, đã có một quý kinh doanh khá bết bát khi doanh thu và lợi nhuận giảm khoảng 90% so với cùng kỳ năm trước.

Theo báo cáo hợp nhất của KSF, quý II/2023, doanh thu thuần đạt 69 tỷ đồng, giảm 89% so với cùng kỳ năm trước. Tương ứng với đó, lợi nhuận gộp giảm 89%, đạt 43 tỷ đồng.

Hoạt động tài chính vốn là trụ đỡ, cũng rơi vào tình cảnh suy giảm so với cùng kỳ, giảm 20%, đạt 130 tỷ đồng. Trong khi đó, chi phí tài chính và chi phí quản lý neo ở mức cao, lần lượt là 88 tỷ đồng và 38 tỷ đồng.

Điều này khiến lơi nhuận của KSF không thể cải thiện so với cùng kỳ năm trước. Kết quý II/2023, công ty báo lãi trước thuế 36 tỷ đồng và lãi sau thuế 29 tỷ đồng, cùng giảm 91%.

Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu thuần của KSF đạt 117 tỷ đồng, giảm 88%; lợi nhuận gộp đạt 75 tỷ đồng, giảm 87% so với cùng kỳ năm trước.

Mặc dù doanh thu tài chính 6 tháng đạt 277 tỷ đồng, tăng 16%, song điều này là không đủ để bù đắp cho sự suy giảm của lợi nhuận gộp, chưa kể là các loại chi phí trong 6 tháng đều rất lớn: chi phí tài chính 171 tỷ đồng, tăng 61%; chi phí quản lý 77 tỷ đồng, giảm 39%.

Bởi vậy, kết 6 tháng, KSF chỉ có lãi trước thuế 92 tỷ đồng, giảm 84%; lãi sau thuế 72 tỷ đồng, giảm 84% so với cùng kỳ năm trước.

Năm 2023, KSF đặt mục tiêu doanh thu 2.000 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 279 tỷ đồng. Như vậy, kết thúc nửa đầu năm, công ty mới hoàn thành 5,8% mục tiêu doanh thu và 25,8% mục tiêu lợi nhuận.

Tại ngày 30/6/2023, tổng tài sản của KSF đạt 15.653 tỷ đồng, tăng 24% so với đầu năm. Cơ cấu tài sản có điểm đáng chú ý là khoản mục “chứng khoán kinh doanh” đạt 1.399 tỷ đồng, tăng 43%. Trong khi đó, các khoản phải thu có sự suy giảm nhẹ với việc các khoản phải thu ngắn hạn giảm 3% còn 7.372 tỷ đồng còn các khoản phải thu dài hạn gần như không đổi ở mức 1.016 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, điểm đáng nói khác là tài sản dở dang dài hạn của KSF đã tăng gấp đôi trong 6 tháng qua, đạt 4.292 tỷ đồng.

Về nguồn vốn, nợ phải trả tại ngày 30/6/2023 của KSF đạt 8.646 tỷ đồng, tăng 48% so với đầu năm. Trong đó, khoản “người mua trả tiền trước ngắn hạn” đạt 1.754 tỷ đồng, tăng 2,5 lần. Tổng giá trị nợ vay tăng 2,7 lần, đạt 2.293 tỷ đồng.

Với vốn chủ sở hữu đạt 7.077 tỷ đồng, tăng 3,6% so với đầu năm, hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu của KSF là 1,23 lần

Dòng tiền kinh doanh 6 tháng của KSF dương 421 tỷ đồng, chủ yếu do giảm các khoản phải thu (2.048 tỷ đồng). Trong 6 tháng, công ty đã mở rộng đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, khiến dòng tiền đầu tư âm 1.636 tỷ đồng. Do đó, công ty đã đẩy quy mô dòng tiền đi vay lên 1.460 tỷ đồng, tăng 78% và giảm quy mô dòng tiền trả nợ gốc vay xuống chỉ còn 272 tỷ đồng, giảm 78% so với cùng kỳ năm trước.

Lưu chuyển tiền thuần 6 tháng âm 27 tỷ đồng khiến tiền và tương đương tiền cuối kỳ còn 72 tỷ đồng.

Đầu tư hơn 1.400 tỷ đồng nâng cấp quốc lộ 28B qua Bình Thuận và Lâm Đồng

Cục Đường bộ Việt Nam vừa trình Bộ Giao thông Vận tải thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi và phê duyệt đầu tư dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 28B qua tỉnh Bình Thuận và tỉnh Lâm Đồng.

Đầu tư hơn 1.400 tỷ đồng nâng cấp quốc lộ 28B qua Bình Thuận và Lâm Đồng (ảnh minh họa)

 

Điểm đầu của dự án tại Km0+000, giao Quốc lộ 1A tại Km1656+900, thuộc thị trấn Lương Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Điểm cuối tại Km68+1000, giao Quốc lộ 20 tại Km185+690, thuộc xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

Tổng chiều dài tuyến khoảng 68km (không bao gồm đoạn Km6+870 – Km7+990 thuộc dự án đường cao tốc Vĩnh Hảo-Phan Thiết đang đầu tư xây dựng). Dự án được đầu tư theo quy mô đường cấp III đồng bằng, nền đường rộng 12m, mặt đường rộng 11m, vận tốc thiết kế 80km/h.

Tổng mức đầu tư của dự án 1.435 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước; trong đó kế hoạch đầu tư trung hạn giai đoạn 2021-2025 đã bố trí gần 1.300 tỷ đồng (chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng hơn 98 tỷ đồng, chi phí xây dựng hơn 1.100 tỷ đồng, chi phí khác 32 tỷ đồng và chi phí dự phòng hơn 135 tỷ đồng).

Thời gian thực hiện dự án trong giai đoạn 2023-2026.

Quốc lộ 28B là tuyến đường đối ngoại quan trọng của các tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng. Đây cũng là trục giao thông theo hướng Đông-Tây ngắn nhất kết nối tuyến Quốc lộ 1, đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông, Quốc lộ 20, phát triển kết nối giữa các vùng ven biển tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, cảng tổng hợp quốc tế Vĩnh Tân với các tỉnh Tây Nguyên, vùng kinh tế Đông Bắc Campuchia.

Quốc lộ 28B cũng là trục giao thông trọng yếu để phát triển kinh tế biển, kinh tế vùng, giúp các tỉnh trong khu vực phát huy hết tiềm năng, lợi thế hiện có, đặc biệt phát triển tam giác du lịch Đà Lạt- Phan Thiết – TP. HCM.

Việc đầu tư Quốc lộ 28B sẽ giúp phát triển dịch vụ logistics, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác du lịch, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, mạng lưới giao thông, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng và các tỉnh Tây Nguyên, giảm áp lực giao thông cho tuyến Quốc lộ 20, rút ngắn cự ly lưu thông giữa Nam Tây Nguyên với Nam Trung Bộ.

By admin